Phù phổi áp lực âm (negative pressure pulmonary edema) là một tình trạng cấp tính xảy ra khi có sự chênh lệch áp lực âm tính trong lồng ngực, dẫn đến sự thoát dịch vào trong phổi gây phù. Đây là một loại phù phổi không do tim, thường xảy ra sau các tình trạng liên quan đến việc tăng áp lực âm trong lồng ngực.
1. Nguyên nhân:
• Tắc nghẽn đường thở: Phổ biến nhất là sau đặt nội khí quản không thành công hoặc sau các tình trạng tắc nghẽn hô hấp như co thắt thanh quản, nghẹt thở hoặc hít phải dị vật.
• Hội chứng ngưng thở khi ngủ: Các bệnh nhân có hội chứng này có thể gặp phù phổi áp lực âm do hít thở quá sức để vượt qua tắc nghẽn đường thở.
• Tăng thông khí sau gây mê: Khi bệnh nhân phục hồi sau gây mê và nỗ lực thở mạnh, có thể gây chênh lệch áp lực âm trong lồng ngực.
2. Cơ chế bệnh sinh:
• Khi có sự tắc nghẽn đường thở, bệnh nhân thường cố gắng hít vào mạnh mẽ để tạo áp lực âm trong lồng ngực nhằm mở rộng phổi. Áp lực âm quá mức này làm tăng áp lực âm tính trong không gian giữa phế nang và mao mạch phổi, làm tăng dòng máu trở về phổi và kéo nước từ mao mạch vào khoảng kẽ phổi, dẫn đến phù phổi.
• Quá trình này cũng có thể làm giảm khả năng trao đổi khí do lượng dịch tăng trong mô phổi và phế nang.
3. Đối tượng nguy cơ:
• Bệnh nhân vừa trải qua gây mê hoặc phẫu thuật có liên quan đến đường hô hấp.
• Những người có các bệnh lý về đường hô hấp trên, như tắc nghẽn đường thở do co thắt thanh quản hoặc dị vật.
• Bệnh nhân bị hội chứng ngưng thở khi ngủ hoặc các rối loạn liên quan đến đường hô hấp.
• Vận động viên hoặc người tập luyện với cường độ cao có thể gặp phải phù phổi do nỗ lực thở quá mức.
Hình 1. Cơ chế phù phổi áp lực âm
Nguồn: M. Lemyze and J. Mallat (2014), Understanding negative pressure pulmonary edema, Intensive Care Med
4. Biểu hiện lâm sàng:
• Khó thở cấp tính: Là triệu chứng chính, bệnh nhân thường có cảm giác hụt hơi, khó thở sau một đợt tắc nghẽn đường thở.
• Khò khè hoặc tiếng rít thanh quản: Do tắc nghẽn hoặc co thắt đường thở trên.
• Ho: Bệnh nhân có thể ho ra bọt hồng hoặc có dịch phổi.
• Giảm oxy máu: Bệnh nhân có thể xanh tím hoặc giảm nồng độ oxy trong máu.
• Tăng tần số hô hấp và nhịp tim nhanh.
• Ran ẩm: Có thể nghe thấy tiếng ran ở hai phổi.
Hình 2. X quang ngực phù phổi áp lực âm
Hình 3. CT Scan ngực phù phổi áp lực âm
5. Điều trị:
• Thông thoáng đường thở: Đảm bảo bệnh nhân có đường thở thông thoáng bằng cách hỗ trợ thở (đặt nội khí quản nếu cần) hoặc cung cấp oxy.
• Giảm áp lực âm trong phổi: Sử dụng các phương pháp hỗ trợ như thở máy áp lực dương (CPAP, BiPAP) để làm giảm sự chênh lệch áp lực trong lồng ngực.
• Sử dụng thuốc giãn phế quản: Nếu bệnh nhân có tình trạng co thắt phế quản, có thể sử dụng các thuốc giãn phế quản.
• Thuốc lợi tiểu: Đôi khi có thể sử dụng để giảm dịch trong phổi, nhưng phải cẩn thận vì nguyên nhân chính không phải do quá tải dịch.
• Theo dõi oxy và khí máu: Theo dõi sát các chỉ số hô hấp và nồng độ oxy máu.
6. Dự phòng:
• Đặt nội khí quản đúng cách: Trong quá trình gây mê và phẫu thuật, cần chú ý đặt nội khí quản cẩn thận và đảm bảo không có tắc nghẽn đường thở sau khi rút nội khí quản.
• Quản lý bệnh lý hô hấp mạn tính: Đối với các bệnh nhân có hội chứng ngưng thở khi ngủ hoặc các bệnh lý về hô hấp, cần điều trị và quản lý tốt các bệnh nền này.
• Giáo dục bệnh nhân: Những người có nguy cơ nên được giáo dục về nguy cơ và cách phòng tránh, đặc biệt trong các trường hợp nỗ lực hô hấp mạnh mẽ không cần thiết.
Kết luận
Phù phổi áp lực âm là một biến chứng hiếm gặp nhưng có thể gây tử vong do tắc nghẽn đường hô hấp trên; các bệnh nhân có triệu chứng không điển hình và thường bị chẩn đoán sai. Phù phổi áp lực âm cần được xem xét ở các bệnh nhân có biểu hiện phù phổi sau khi bị tắc nghẽn đường hô hấp trên, sau khi đã loại trừ các yếu tố gây bệnh khác. Điều trị phù phổi áp lực âm bao gồm theo dõi chặt chẽ, giải quyết tắc nghẽn đường thở kịp thời, cung cấp oxy bổ sung và nếu cần, hỗ trợ thông khí. Do sự khác biệt giữa các cá nhân, dịch tễ học, nguyên nhân và quá trình sinh lý bệnh của phù phổi áp lực âm vẫn là những vấn đề gây tranh cãi và đặt ra nhiều thách thức.
ThS.BS CKII. Vũ Văn Kim Long
KHOA GÂY MÊ HỒI SỨC