Sa tạng chậu (Pelvic Organ Prolapse – POP)
Đăng vào lúc [2022-05-17 14:50:46] - Cập nhật vào [2022-06-27 17:02:17] Lượt xem: 305 424
     Trung Tâm Tiết Niệu và HIFU, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ tiếp nhận và điều trị một trường hợp người bệnh nữ tên D.T.H 51 tuổi, vào viện với tình trạng khối sa vùng chậu. Cách nhập viện 6 tháng, người bệnh phát hiện có khối sa vùng âm hộ khi đi tiểu, triệu chứng trên ngày càng tăng và càng rõ khi làm việc nặng, điều trị nội khoa liên tục nhưng khối sa ngày càng nhiều nên người bệnh đã đi khám, nhập viện điều trị và được chỉ định phẫu thuật với ekip gồm: ThS.BS.CKII. Nguyễn Trung Hiếu, BS.CKII. Cao Văn Nhựt, ThS.BS.CKI. Lê Thanh Bình, BS. Phạm Hữu Tân, BS. Trần Quốc Cường đã phẫu thuật đặt mảnh ghép tổng hợp điều trị sa tạng vùng chậu cho người bệnh. Sau 6 ngày nhập viện người bệnh đã bình phục và được xuất viện.

Sa các tạng ở vùng chậu (POP - Pelvic Organ Prolapse) là sự tụt xuống của tử cung, bàng quang, trực tràng, thành trước – thành sau âm đạo... ra khỏi vị trí giải phẫu bình thường, do sự tổn thương và suy yếu các cấu trúc cân cơ và dây chằng nâng đỡ tại sàn chậu.


     Một nghiên cứu tại Mỹ đã thống kê được:
          · Trong 16.616 phụ nữ còn tử cung có 14,2% trường hợp sa tử cung; 34,3% trường hợp sa bàng quang và 18,6% sa trực tràng.
          · Trong 10.727 phụ nữ đã cắt tử cung có 32,9% trường hợp sa bàng quang; 18,3% trường hợp sa trực tràng.
          · Tỷ lệ sa tạng chậu tăng dần theo thời gian, ước tính có khoảng 11% phụ nữ sống đến tuổi 80 mắc bệnh lý này, một nửa số này sẽ phải can thiệp phẫu thuật vì bệnh tái phát.

     Riêng tại Việt Nam, thống kê của Hội Sàn chậu TP.HCM cho thấy, khoảng 40% phụ nữ từ 40 tuổi trở lên bị ảnh hưởng bởi bệnh lý sa tạng vùng chậu, thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh, mang thai và sinh nở nhiều lần, thừa cân/béo phì, làm việc nặng, mắc các bệnh lý hô hấp, táo bón mạn tính hoặc có tiền sử từng phẫu thuật vùng chậu.

     Trong thời gian gần đây, Trung Tâm Tiết Niệu và HIFU, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ tiếp nhận và điều trị một trường hợp người bệnh nữ tên D.T.H 51 tuổi, vào viện với tình trạng khối sa vùng chậu. Cách nhập viện 6 tháng, người bệnh phát hiện có khối sa vùng âm hộ khi đi tiểu, triệu chứng trên ngày càng tăng và càng rõ khi làm việc nặng, điều trị nội khoa liên tục nhưng khối sa ngày càng nhiều nên người bệnh đã đi khám, nhập viện điều trị và được chỉ định phẫu thuật với ekip gồm: ThS.BS.CKII. Nguyễn Trung Hiếu, BS.CKII. Cao Văn Nhựt, ThS.BS.CKI. Lê Thanh Bình, BS. Phạm Hữu Tân, BS. Trần Quốc Cường đã phẫu thuật đặt mảnh ghép tổng hợp điều trị sa tạng vùng chậu cho người bệnh. Sau 6 ngày nhập viện người bệnh đã bình phục và được xuất viện.

(Hình ảnh sa tạng chậu trước khi phẫu thuật)

(Ekip đang đặt mảnh ghép tổng hợp Polypropylene mesh)

(Hình ảnh phẫu thuật đã hoàn thành)

     Như vậy, bệnh sa các tạng vùng chậu là bệnh như thế nào? Nguyên nhân? điều trị và dự phòng như thế nào? chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu.

          1. Định nghĩa
               Sa tạng chậu là hiện tượng các cơ và dây chằng có nhiệm vụ nâng đỡ các cơ quan vùng chậu bị suy yếu, khiến các cơ quan này trượt khỏi vị trí ban đầu, dẫn đến hiện tượng sa tử cung, bàng quang hoặc trực tràng. Nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, tình trạng này có thể tiến triển nhanh và biến chứng nguy hiểm.

          2. Phân loại và phân độ
               2.1. Phân loại và phân độ sa các tạng vùng chậu:
                    Vị trí giải phẫu so với thành âm đạo



               2.2. Phân loại và phân độ sa tạng vùng chậu: theo hệ thống POP – Q


                    Độ 0: Không sa tạng chậu
                    Độ I: B > 1cm trên màng trinh
                    Độ II: B trong khoảng ± 1cm trên dưới màng trinh
                    Độ III: B >1cm dưới màng trinh đến < (độ dài âm đạo – 2) cm
                    Độ IV: Sa toàn bộ, B  ≥ (độ dài âm đạo – 2) cm

               2.3. Phân loại và phân độ sa tạng vùng chậu: theo Baden - Walker


                    Grade 0: bình thường
                    Grade 1: sa nửa đường tới màng trinh
                    Grade 2: sa tới màng trinh
                    Grade 3: sa nửa đường quá màng trinh
                    Grade 4: sa tối đa ra ngoài.

         3. Yếu tố nguy cơ và nguyên nhân
     Nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh là do quá trình mang thai và sinh nở. Bởi khi mang thai từ 3 tháng cuối trở đi thì sức nặng khối thai nhi – tử cung và tăng áp lực đè lên sàn chậu của quá trình chuyển dạ sinh, các cân cơ có nhiệm vụ hỗ trợ nâng đỡ cơ quan vùng chậu sẽ giãn ra hết mức có thể để việc sinh nở dễ dàng, tuy nhiên chính điều này cũng làm cho các cân cơ nhanh chóng yếu đi hoặc bị tổn thương đứt rách. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có đến 80% những bệnh nhân bị sa tạng vùng chậu có số lần sinh con trên 3 lần.

     Một nguyên nhân khác phải kể đến là sự sụt giảm nồng độ hormone nữ Estrogen trong giai đoạn trước và sau mãn kinh, khiến cơ thể thiếu hụt lượng collagen cần thiết để liên kết các mô vùng chậu.


     Ngoài ra, một số nguyên nhân khác gồm:
          · Bệnh lý ho mạn tính hoặc sự gắng sức, rặn mạnh do táo bón (làm tăng áp lực ổ bụng cũng là yếu tố nguy cơ)
          · Sang chấn sản khoa như rặn khi cổ tử cung mở chưa trọn, sinh thủ thuật bị sang chấn hoặc rách tầng sinh môn nhưng không được phục hồi đúng mức;
          · Các mô nâng đỡ suy yếu khi bước vào giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh;
          · Tình trạng thừa cân hoặc béo phì, có u xơ lớn hoặc có tiền sử từng phẫu thuật vùng chậu;
          · Làm các công việc nặng nhọc hoặc gắng sức;
          · Các cân cơ và dây chằng sàn chậu yếu bẩm sinh.

     4. Triệu chứng và biến chứng
          Các dấu hiệu của sa tạng chậu xuất hiện dần dần, giai đoạn đầu khó nhận biết. Ở mức độ nhẹ, người bệnh có thể cảm giác có khối phình ra bên trong âm đạo. Khi bệnh tiến triển sang giai đoạn nặng hơn, người bệnh có thể gặp phải các biểu hiện như:
               · Cảm giác căng tức và nặng ở vùng bụng dưới, vùng chậu;
               · Cảm giác sưng ở âm đạo, có khối u lồi ra bên ngoài âm đạo;
               · Triệu chứng đau lưng tăng dần trong ngày;
               · Tiểu không kiểm soát;
               · Khó tiểu tiện, đại tiện;
               · Bất tiện trong đi lại hoặc ngồi;
               · Chảy máu, tăng tiết dịch âm đạo (mặc dù không phải chu kỳ kinh nguyệt);
               · Không thể hoặc gặp khó khăn khi quan hệ tình dục.


          =>  Sa tạng chậu nếu không được can thiệp điều trị từ sớm, người bệnh sẽ bị rối loạn chức năng tiết niệu, phụ khoa và hậu môn trực tràng. Nếu để bệnh tiến triển nặng nề, nhất là sa tử cung ở mức độ 4 sẽ gây viêm loét, lúc này cần phải can thiệp cắt bỏ hoàn toàn tử cung.

     5. Xét nghiệm chẩn đoán và chuyên biệt
          - Bilan niệu động học
          - Chụp MRI động (Defecography) : là tiêu chuẩn vàng và là bằng chứng khách quan về phân loại và phân độ các tạng chậu bị sa
          - Siêu âm 3D ngả trực tràng
          - Đo áp lực ống hậu môn, co thắt hậu môn
          - Đo điện cơ tầng sinh môn
          - Các xét nghiệm tổng quản bổ trợ khác: giúp phát hiện các bệnh lý đi kèm, và hỗ trợ cho phẫu thuật.

(Kỹ thuật MRI động học sàn chậu- defecography)

     6. Chẩn đoán
          Sự phối hợp giữa lâm sàng + cận lâm sàng + bệnh sử + tiền sử.

     7. Điều trị
          7.1. Nội khoa
               - Chỉ định: Sa tạng chậu độ 1-2 và không biến chứng và không gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
               - Điều trị: Thay đổi thói quen và chế dộ sinh hoạt + Sử dụng nội tiết tố Estrogen tại chổ + tập vật lý trị liệu vùng chậu + vòng nâng.


          7.2. Ngoại khoa
               - Chỉ định: Sa tạng chậu từ độ 2 theo POP-Q, có triệu chứng hay biến chứng hoặc ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống hoặc thất bại với điều trị bảo tồn 3-6 tháng (Pessary).
               -  Có thể điều trị qua ngả âm đạo hoặc ngả bụng hoặc kết hợp ngả bụng và ngả âm đạo.

Đường vào

Ngả âm đạo

Ngả bụng

(mổ mở hoặc nội soi ổ bụng)

Kết hợp ngả âm đạo và ngả bụng

Chỉ định

- Bệnh nhân >70 tuổi

-Không thể gây mê > 2 giờ

- tiền sử vết mổ cũ trên bụng ≥ 2 lần  hoặc tiền sử nhiễm trùng vết mổ

- BMI ≥ 30 Kg/m2 da

- Thất bại qua phẫu thuật ngả bụng

- Bệnh nhân trẻ

- Sa tử cung/ mỏm cắt độ 3-4

- Thất bại phẫu thuật qua ngả âm đạo trước đó

- Sa các tạng phối hợp: Sa tử cung ≥ độ 2 kèm với sa các tạng chậu khác khi tình trạng bệnh nhân không cho phép gây mê > 2 giờ

- trong trường hợp khó thì cần đặt mảnh ghép nâng bàng quang trực tràng để tăng hiệu quả điều trị


               - Các phương pháp điều trị:

(Ekip đang đặt mảnh ghép tổng hợp Polypropylene mesh)

     8. Dự phòng
          Để chăm sóc tốt sức khỏe sàn chậu, cũng như phát hiện bệnh sớm và có hướng can thiệp điều trị kịp thời, khuyến cáo chị em phụ nữ nên:
               • Thăm khám sức khỏe phụ khoa, đặc biệt là khám sàn chậu định kỳ 6 tháng/lần. Trường hợp điều trị bệnh cần tái khám đúng lịch hẹn để theo dõi tiến triển bệnh, góp phần điều trị hiệu quả và chăm sóc tốt nhất.
               • Tuân thủ đúng chỉ định điều trị của bác sĩ, không tự ý dùng thuốc hoặc sử dụng sai liều lượng được chỉ định.
               • Thực hiện đúng cách các bài tập phục hồi sàn chậu theo hướng dẫn của bác sĩ.
               • Xây dựng chế độ ăn uống khoa học, bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt là ăn nhiều rau củ quả, bổ sung chất xơ, uống nhiều nước để ngăn ngừa chứng táo bón.
               • Có lối sống sinh hoạt lành mạnh, nhất là không hút thuốc lá vì có thể gây ra chứng ho mạn tính.
               • Duy trì mức cân nặng cân đối, phù hợp, đảm bảo cơ thể khỏe mạnh.

(Tập luyện cơ sàn chậu là một trong những phương pháp hỗ trợ điều trị bệnh hiệu quả cũng như phòng bệnh tái phát)


ThS.BS.CKII. NGUYỄN TRUNG HIẾU            
Trung tâm tiết niệu Bệnh viện Trường ĐHYDCT     



Tin tức liên quan:
THÔNG BÁO - TIN TỨC CHUNG
Thông báo số 262 về việc điều chỉnh một số nội dung chương trình Lễ hội kỷ niệm 10 năm thành lập Bệnh viện
Thông báo 247 lần thứ 26 năm 2021 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) tại Bệnh viện
Thông báo số 227 lần thứ 25 năm 2021 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) tại Bệnh viện
Thông báo số 218 lần thứ 24 năm 2021 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) tại Bệnh viện
Thông báo số 179 lần thứ 22 năm 2021 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2)
Thông báo số 126 (lần thứ 21 năm 2021) về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2)
Thông báo số 122 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) (lần 20)
Thông báo số 77 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) (lần 19)
Thông báo 72 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) (lần 18)
Thông báo số 68 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) (lần 17)
Thông báo số 65 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) (lần 16)
Thông báo số 63 về việc công nhận kết quả trúng tuyển kỳ xét tuyển viên chức của Bệnh viện Trường ĐHYDCT
Quyết định số 208 về việc công nhận kết quả trúng tuyển kỳ xét tuyển viên chức Bệnh viện Trường ĐHYDCT năm 2021
Quyết định số 207 về việc công nhận kết quả xét tuyển viên chức của Bệnh viện Trường ĐHYDCT năm 2021
Thông báo số 62 kết quả xét tuyển viên chức Bệnh viện Trường ĐHYDCT
Thông báo số 59 về thời gian và địa điểm ứng viên tham dự kiểm tra, sát hạch vòng 2 kỳ xét tuyển viên chức của Bệnh viện năm 2021
Thông báo số 56 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) (lần 15)
Thông báo số 54 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) (lần 14)
Thông báo số 53 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) (lần 13)
Thông báo số 52 về việc triển khai công tác phòng và kiểm soát lây nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (SARS-CoV-2) (lần 12)
ASPxHyperLink
LIÊN KẾT
BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
Địa chỉ: Số 179, Đường Nguyễn Văn Cừ, Phường An Khánh, Quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.
Liên hệ: 02923 899 444
Fax: 02923 740 221
Cấp cứu: 02923 894 123
Email: bvdhydcantho@ctump.edu.vn
Facebook: https://www.facebook.com/bvdhydct
Website: http://bvdhydcantho.com
Tổng lượt truy cập: 959,496
THỜI GIAN KHÁM BỆNH NHƯ SAU:
- Thời gian lấy số thứ tự: 6h sáng các ngày làm việc trong tuần.
- Cấp cứu: 24/24 (kể cả ngày Lễ, Tết và Chủ nhật)
- Các ngày làm việc trong tuần: Từ Thứ Hai đến Thứ Sáu (hoặc theo thông báo)
- Tiếp nhận bệnh nhân:
Buổi sáng từ 6h45 - 10h45 | Buổi chiều từ 13h - 16h45
- Thời gian khám bệnh:
Buổi sáng từ 7h - 11h | Chiều từ 13h - 17h
BẢN ĐỒ ĐƯỜNG ĐI
© Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.