Người bệnh Đinh Văn H. (72 tuổi, có tiền sử tăng huyết áp) nhập viện trong tình trạng đau đầu, chóng mặt lặp đi lặp lại kèm theo nặng ngực kéo dài khoảng 1 năm. Kết quả chụp cắt lớp vi tính mạch máu não (CTA) và chụp mạch máu não số hóa xóa nền (DSA) xác định người bệnh bị hẹp nặng động mạch dưới đòn trái. Trường hợp này biểu hiện cơ chế huyết động bất lợi, khi tình trạng hẹp nặng đoạn gốc động mạch dưới đòn làm giảm áp lực tưới máu, khiến dòng máu từ hệ thống động mạch đốt sống bị đảo chiều chảy ngược xuống chi trên trái thay vì lên nuôi não, đặt người bệnh trước nguy cơ đột quỵ não và thiếu máu chi trầm trọng.
Ekip điều trị gồm TS.BS. Nguyễn Vũ Đằng (Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh) và BSNT. Nguyễn Phan Huy đã thực hiện thành công thủ thuật đặt stent động mạch dưới đòn trái dưới hướng dẫn của hệ thống DSA, mang lại hiệu quả điều trị tối ưu nhờ ưu điểm ít xâm lấn, độ chính xác cao và thời gian hồi phục nhanh chóng.


Ekip đang thực hiện kĩ thuật can thiệp đặt Stent động mạch dưới đòn trái cho người bệnh
Hình ảnh hẹp động mạch dưới đòn trước và sau can thiệp
Sau can thiệp, tình trạng người bệnh H đã ổn định, các triệu chứng đau đầu, chóng mặt, nặng ngực cải thiện rõ rệt. Kết quả kiểm tra cho thấy dòng máu lưu thông tốt qua vị trí đặt Stent, đảm bảo cung cấp máu nuôi não và các cơ quan.
Đặt stent động mạch dưới đòn (Subclavian artery stenting) là một phương pháp can thiệp nội mạch tối thiểu được sử dụng rộng rãi nhằm tái thông lòng mạch bị hẹp hoặc tắc nghẽn, chủ yếu do xơ vữa động mạch. Kỹ thuật này được thực hiện bằng cách luồn ống thông (catheter) và dây dẫn (guidewire) dưới hướng dẫn của hệ thống chụp mạch máu số hóa xóa nền (DSA) sau đó bơm bóng và thả khung giá đỡ kim loại (stent) để giữ cho lòng mạch luôn thông thoáng. Mục đích cốt lõi của thủ thuật này là phục hồi lưu lượng máu nuôi chi trên, đồng thời giải quyết triệt để hội chứng cướp máu động mạch dưới đòn. So với phẫu thuật mở, đặt stent động mạch dưới đòn sở hữu nhiều ưu điểm như ít xâm lấn, chỉ cần gây tê tại chỗ, thời gian phục hồi nhanh, ít biến chứng nhiễm trùng và đạt tỷ lệ thành công cao.
Sự thành công của ca bệnh này một lần nữa khẳng định năng lực chuyên môn và sự phối hợp nhịp nhàng của ekip bác sĩ tại khoa Chẩn đoán hình ảnh với những hệ thống trang thiết bị hiện đại.
Nguồn: Khoa Chẩn đoán hình ảnh