Tràn mủ màng phổi là tình trạng mủ tích tụ trong khoang màng phổi do nhiễm trùng. Đây là bệnh lý nghiêm trọng, có thể diễn tiến nặng và đe dọa tính mạng nếu không được can thiệp kịp thời. Trong một số trường hợp, điều trị cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nội khoa và ngoại khoa để kiểm soát ổ nhiễm, làm sạch khoang màng phổi và giúp phổi tái nở.
Trường hợp lâm sàng:
Người bệnh nam nhập viện tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ với tình trạng sốt kéo dài, ớn lạnh, ho khạc đàm và đau ngực phải tăng khi hít sâu hoặc ho. Các triệu chứng kéo dài khoảng 3 tuần. Người bệnh đã được điều trị tại cơ sở y tế tuyến trước với chẩn đoán viêm phổi nhưng tình trạng không cải thiện, vẫn còn sốt, ho, đau ngực, ăn uống kém. Người bệnh sụt 15kg trong 2 tháng và hút thuốc lá 20 gói – năm.
Khám lâm sàng ghi nhận: phổi phải gõ đục, giảm rung thanh, và giảm rì rào phế nang.
Hình ảnh học cho thấy ổ dịch màng phổi khu trú
X-quang ngực cho thấy hình ảnh bất thường vùng phổi phải, theo dõi dịch màng phổi khu trú. Siêu âm màng phổi ghi nhận lượng dịch nhiều, tính chất không thuần nhất.
Đặc biệt, CT ngực có tiêm thuốc cản quang cho thấy khối tổn thương đậm độ dịch mặt sau phổi phải, đẩy các nhánh phế quản ra trước, kích thước khoảng 6x5x17cm; Màng phổi dày đều khoảng 4mm, split pleural sign (+); Xẹp thụ động một phần thùy dưới phổi phải; Nhiều hạch thượng đòn, hạch nách hai bên và hạch trung thất.
Các kết quả xét nghiệm cho thấy tình trạng viêm nhiễm rõ rệt. Dịch màng phổi có ưu thế bạch cầu đa nhân trung tính, trong khi xét nghiệm tìm Mycobacterium tuberculosis và nuôi cấy vi khuẩn từ dịch màng phổi ban đầu chưa ghi nhận tác nhân.
Khi điều trị nội khoa chưa đủ – cần kiểm soát ổ nhiễm
Sau 3 ngày điều trị kháng sinh ban đầu, người bệnh vẫn còn sốt và đáp ứng lâm sàng chưa đạt yêu cầu.
Trước tình trạng ổ mủ màng phổi khu trú, khó dẫn lưu bằng phương pháp thông thường, các bác sĩ Nội Hô hấp nhận định cần phối hợp với chuyên khoa Ngoại Lồng ngực để kiểm soát ổ nhiễm.
Người bệnh được điều chỉnh kháng sinh và hội chẩn Ngoại Lồng ngực. Sau khi đánh giá toàn diện, ê-kíp thống nhất sử dụng kháng sinh Imipenem/Cilastatin và Vancomycin phối hợp phẫu thuật nội soi lồng ngực làm sạch ổ mủ và bóc vỏ màng phổi.
Phẫu thuật nội soi làm sạch khoang màng phổi
Người bệnh được phẫu thuật nội soi lồng ngực làm sạch ổ mủ màng phổi phải dưới gây mê nội khí quản. Trong phẫu thuật ghi nhận nhiều dải dính giữa hai lá màng phổi, khoang màng phổi chứa nhiều mủ đục, màng phổi dày khoảng 8 mm. Tiến hành bóc tách các dải dính, làm sạch ổ mủ, lấy bỏ giả mạc, rửa sạch khoang màng phổi và đặt dẫn lưu màng phổi phải. Dịch mủ được gửi cấy vi sinh, nuôi cấy và làm kháng sinh đồ; đồng thời gửi mẫu mô màng phổi làm giải phẫu bệnh nhằm xác định nguyên nhân và loại trừ bệnh lý ác tính hoặc lao màng phổi
Phổi tái nở, tổn thương cải thiện sau điều trị
Sau điều trị, người bệnh có diễn tiến thuận lợi. Sau 11 ngày, ống dẫn lưu màng phổi được rút. Kết quả cấy mủ màng phổi âm tính.
Giải phẫu bệnh ghi nhận mô liên kết xơ hóa, có chất hoại tử, không thấy tế bào lạ; kết luận phù hợp với tổn thương viêm bán cấp (nang áp xe).
Hình ảnh X-quang ngực theo dõi cho thấy khoang màng phổi được làm sạch, phổi tái nở và tổn thương cải thiện rõ sau phẫu thuật. Các hình ảnh trong hồ sơ minh họa diễn tiến từ thời điểm nhập viện, sau phẫu thuật và đến thời điểm rút ống dẫn lưu.


Hình: Hình ảnh nội soi màng phổi và Mẫu mô sinh thiết màng phổi lấy qua nội soi.
Thông điệp:
1. Tràn mủ màng phổi là tình trạng cần được chẩn đoán và điều trị sớm. Đối với những trường hợp tràn mủ màng phổi khu trú, đặc biệt khi điều trị nội khoa hoặc dẫn lưu thông thường không đạt hiệu quả, cần đánh giá khả năng kiểm soát ổ nhiễm bằng các phương pháp can thiệp phù hợp.
2. Bên cạnh việc điều trị nhiễm trùng, việc tìm kiếm nguyên nhân nền cũng rất quan trọng, đặc biệt ở những người bệnh có sụt cân, hạch nhiều vị trí hoặc các dấu hiệu bất thường khác.
Trường hợp trên cho thấy vai trò của phối hợp Nội Hô hấp – Ngoại Lồng ngực trong những bệnh cảnh phức tạp: vừa kiểm soát nhiễm trùng, giải quyết ổ mủ, giúp phổi tái nở nhanh hơn, vừa thu thập bệnh phẩm để tiếp tục tìm nguyên nhân bệnh.
Nguồn: Khoa Nội Tổng hợp – TS.BS. Dương Thị Thanh Vân