Thuyên tắc phổi (PE) là tình trạng huyết khối từ nơi khác bị vỡ, trôi đến và gây tắc nghẽn động mạch phổi. Tỷ lệ bị thuyên tắc mạch phổi ước tính hàng năm trên toàn thế giới là khoảng 1/1000 người. Có tới 20% số người có chẩn đoán bị PE cấp tính sẽ tử vong trong 90 ngày tới.
Gần như tất cả tắc nghẽn động mạch phổi phát sinh từ huyết khối tĩnh mạch của chân hoặc khung chậu. Nguy cơ thuyên tắc cao hơn với các huyết khối từ tĩnh mạch khoeo trở lên. Ngoài ra, các huyết khối cũng có thể từ tĩnh mạch cánh tay hoặc tĩnh mạch trung tâm ở ngực (do đặt catheter tĩnh mạch trung tâm hoặc do hậu quả của hội chứng lối thoát lồng ngực) gây ra.
Các yếu tố nguy cơ của thuyên tắc động mạch phổi, bao gồm:
• Các tình trạng làm ảnh hưởng đến sự hồi phục của tĩnh mạch, bao gồm nghỉ ngơi tại giường và không đi lại.
• Các tình trạng tổn thương hoặc rối loạn chức năng nội mô mạch máu như chấn thương hoặc phẫu thuật.
• Tình trạng tăng đông máu tiềm ẩn như ung thư hoặc rối loạn đông máu nguyên phát.
Các biểu hiện lâm sàng và triệu chứng của thuyên tắc động mạch phổi không đặc hiệu. Trong hầu hết các trường hợp, người bệnh cảm thấy khó thở, thở nhanh, đau ngực (kiểu màng phổi), nhịp tim nhanh, tụt huyết áp. Hoặc trường hợp nặng hơn có thể đau đầu, ngất, ngừng tim. Kết hợp các dấu hiệu lâm sàng với các yếu tố nguy cơ có thể gợi ý tình trạng thuyên tắc động mạch phổi. Tuy nhiên, khoảng 40% bệnh nhân thuyên tắc động mạch phổi không có các yếu tố nguy cơ, điều này càng làm khó khăn cho việc chẩn đoán sớm thuyên tắc động mạch phổi.
Nhân một trường hợp bệnh nhân nữ 48 tuổi, đang nằm viện điều trị nội trú với chẩn đoán ‘Huyết khối động mạch đùi phải-động mạch khoeo phải-động mạch chày trước, sau (P) – Suy van tĩnh mạch sâu chi dưới – Đái tháo đường type 2’. Sau điều trị 2 ngày, bệnh nhân đột ngột than khó thở, nặng ngực, SpO2 72% (khí trời), huyết áp tụt (70/40 mmHg). Khoa nội trú mời hội chẩn khẩn với đơn vị Cấp cứu-Hồi sức tích cực, nhận diện đây là một trường hợp nặng, khởi phát đột ngột, diễn biến nhanh chóng suy hô hấp và tụt huyết áp. Bệnh nhân được bù dịch với 1000ml dịch đẳng trương, thở Oxy qua Mask 10 lít/phút trong 30 phút, tình trạng bệnh có cải thiện hơn với huyết áp 90/60 mmHg, mạch 120 lần/phút, SpO2 92%. Bệnh nhân được cho siêu âm tim khẩn với kết quả ghi nhận: Dãn buồng tim phải; Hở 2 lá ¼, hở 3 lá ¾, hở van động mạch chủ ¼, tăng áp phổi trung bình; EF 64%; RV/LV >1. Đánh giá nhanh tình trạng bệnh cùng với chỉ định siêu âm tim phù hợp, các dấu hiệu rối loạn chức năng thất phải được xác định ngay giúp nhận định sớm đây là một trường hợp thuyên tắc phổi cấp mức độ nặng và nguy cơ cao có chỉ định tái tưới máu ngay. Theo hướng dẫn 2019 của hội Tim mạch Châu Âu, với những trường hợp nghi ngờ thuyên tắc động mạch phổi có nguy cơ cao, khi ghi nhận được các dấu hiệu quá tải thất phải trên siêu âm tim phù hợp (không do nguyên nhân khác) có thể tiến hành tái tưới máu ngay mà không phải chụp cắt lớp vi tính dựng hình mạch máu phổi.
Thuyên tắc động mạch phổi là một cấp cứu tim mạch, nếu được nhận diện và chẩn đoán sớm có thể giảm tỷ lệ tử vong và các biến cố tim mạch hậu thuyên tắc.
1. Hoa, C. N., & Hương, Đ. T. T. (2022). Khuyến cáo của Hội Tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán, điều trị và dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch. Hội Tim mạch học Việt Nam.
2. Huisman, M. V., Humbert, M., Jennings, C. S., Jimenez, D., Kucher, N., Lang, I. M., ... & Zamorano, J. L. (2020). 2019 ESC Guidelines for the diagnosis and management of acute pulmonary embolism developed in collaboration with the European Respiratory Society (ERS). European Heart Journal, 41(4), 543À603.
Khoa Cấp cứu-Hồi sức tích cực-BS. Nguyễn Phượng Linh