Bệnh viện trường Đại học Y dược Cần Thơ
Bệnh viện trường Đại học Y dược Cần Thơ
CHUYÊN MỤC: GÓC NHÌN DƯỢC LÂM SÀNG VỀ SỬ DỤNG KHÁNG SINH
123
Truyền kéo dài betalactam: từ cơ sở lý thuyết đến thực hành lâm sàng
Ngày đăng: 18/05/2022 08:27
   Beta-lactam là các kháng sinh có hiệu lực diệt khuẩn phụ thuộc vào thời gian, (%) fT > MIC là chỉ số dự báo hiệu quả diệt khuẩn tốt nhất trên lâm sàng. Để đạt được hoạt tính trên các tác nhân gây bệnh còn nhạy cảm, nồng độ thuốc trong máu cần đạt từ 4 – 5 giá trị MIC của vi khuẩn. Điều quan trọng là nồng độ beta-lactam cần luôn được duy trì ở mức độ này trong khoảng thời gian càng dài càng tốt do hầu hết các betalactam có thời gian bán thải ngắn và không có tác dụng hậu kháng sinh. 

IMIPENEM-CILASTATIN một số điểm cần lưu ý trong điều trị nhiễm khuẩn nặng
Ngày đăng: 15/04/2022 15:59
Imipenem/cilastatin là một trong những lựa chọn quan trọng trong điều trị các trường hợp nhiễm trùng nặng có nguy cơ nhiễm khuẩn đa kháng. Việc tối ưu hóa chế độ liều theo dược động học-dược lực học với chế độ truyền kéo dài 3 giờ có thể nâng cao hiệu lực diệt khuẩn nhờ tối ưu %fT > MIC. Trong quá trình điều trị, theo dõi đáp ứng và xuống thang đúng lúc mang lại lợi ích cả về hiệu quả-kinh tế đồng thời giảm nguy cơ biến cố bất lợi do thuốc, nhất là độc tính trên thần kinh của imipenem-cilastatin.

Sử dụng kháng sinh trong điều trị Pseudomonas aeruginosa cập nhật hướng dẫn IDSA 2022
Ngày đăng: 21/03/2022 16:59
    Sử dụng kháng sinh trong điều trị Pseudomonas aeruginosa cập nhật hướng dẫn IDSA 2022 

Sử dụng kháng sinh trong điều trị các chủng sinh Beta-lactamase phổ rộng (ESBL) cập nhật hướng dẫn IDSA 2022
Ngày đăng: 21/03/2022 16:53
     Sử dụng kháng sinh trong điều trị  các chủng sinh Beta-lactamase phổ rộng (ESBL) cập nhật hướng dẫn IDSA 2022
Sử dụng kháng sinh trong điều trị Enterobacter kháng Carbapenem (CRE) cập nhật hướng dẫn IDSA 2022
Ngày đăng: 21/03/2022 16:46
     Sử dụng kháng sinh trong điều trị Enterobacter kháng Carbapenem (CRE) cập nhật hướng dẫn IDSA 2022
Kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ 3, 4: Liệu có gì cần nhìn lại về dược lý lâm sàng?
Ngày đăng: 16/03/2022 09:30
   Cephalosporin thế hệ 3-4 là các dẫn chất acid 7-aminocephalosporanic có phổ kháng khuẩn tập trung chủ yếu trên các chủng gram âm và sử dụng bằng đường tĩnh mạch cho các nhiễm khuẩn từ trung bình đến nặng. Tuy nhiên, sự khác biệt nhỏ trong phổ kháng khuẩn, đặc tính dược động, tình hình đề kháng, tác dụng không mong muốn và giá thành là những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các cephalosporin cho các tình huống lâm sàng cụ thể tại các bệnh viện.

THUỐC NHÌN GIỐNG NHAU – ĐỌC GIỐNG NHAU
Ngày đăng: 14/01/2022 18:36
Thuốc nhìn gần giống nhau (Look Alike - LA): là thuốc có bao bì cấp 1 (như vỉ, viên, ống, chai, lọ, túi) hoặc bao bì cấp 2 (thùng, hộp) tương tự nhau về hình dạng, đơn vị đóng gói, màu sắc, kích thước, kí hiệu và thiết kế trên bao bì ...

Phát hiện tín hiệu phản ứng có hại của thuốc: nền tảng của công tác cảnh giác dược
Ngày đăng: 04/01/2022 15:04
   Độc tính và các tác dụng không mong muốn là yếu tố quan trọng cần cân nhắc trong quá trình sử dụng thuốc cho người bệnh, bên cạnh hiệu quả, chi phí điều trị và các tiêu chí khác như chính sách về dùng thuốc, bảo hiểm hay khả năng tuân thủ điều trị. 


Cập nhật khuyến cáo hiện hành của IDSA trong điều trị nhiễm khuẩn do Acinetobacter baumanii
Ngày đăng: 14/12/2021 08:52
   Lựa chọn kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn do Acinetobacter baumannii kháng carbapenem (CRAB) luôn là một thách thức lớn trong thực hành lâm sàng. Với những bằng chứng hiện tại, ampicillin-sulbactam, polymyxin (colistin), minocyclin là những tác nhân tiềm năng. Đơn trị liệu có thể áp dụng trên những trường hợp nhiễm trùng nhẹ, cần kết hợp thêm với nhóm kháng sinh tiềm năng khác (phối hợp ampicillin-sulbactam, meropenem truyền kéo dài và cyclin hoặc colistin có thể xem là lựa chọn tốt và khả thi nhất) cho những bệnh nhân nhiễm trùng nặng.

Cập nhật khuyến cáo hiện hành của IDSA trong điều trị nhiễm khuẩn do vi khuẩn sinh AmpC β-lactamase
Ngày đăng: 14/12/2021 08:43
   Khả năng sinh AmpC là một trong những vấn đề cần xem xét khi điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn gram âm gồm Enterobacter và một số chủng khác. Cefepim có thể là lựa chọn ưu thế trong phần lớn các trường hợp vi khuẩn còn nhạy cảm, trong bối cảnh cần dự trữ carbapenem cho các nhiễm trùng nặng hơn. Ceftriaxon, ceftazidim và piperacillin-tazobactam có thể được lựa chọn cho một số trường hợp như nhiễm trùng bàng quang nhẹ chưa biến chứng. Các giải pháp khác như betalactam thế hệ mới cũng có thể cân nhắc, dù khả năng tiếp cận còn hạn chế tại Việt Nam.

Cập nhật khuyến cáo hiện hành của IDSA trong điều trị nhiễm khuẩn do Stenotromonas maltophilia
Ngày đăng: 14/12/2021 08:29
  Do các bằng chứng đủ mạnh để khuyến cáo trị liệu còn hạn chế, việc điều trị nhiễm khuẩn do S. maltophilia hiện còn gặp nhiều khó khăn, trong bối cảnh bệnh nhân nặng, đồng nhiễm các vi khuẩn đa kháng thuốc khác. Hiện nay, TMP-SMX được xem là lựa chọn đầu tay; các lựa chọn khác có thể cân nhắc gồm minocyclin, tetracyclin, levofloxacin. Ceftazidim-avibactam phối hợp với aztreonam có thể vượt qua các cơ chế đề kháng của S. maltophilia. Việc phối hợp các nhóm thuốc tiềm năng là cần thiết trên những bệnh nhân nhiễm khuẩn từ trung bình đến nặng

Hiệu quả và độ an toàn của vắc xin Comirnaty trên đối tượng trẻ em
Ngày đăng: 11/11/2021 14:21
    Trong các loại vaccine phòng COVID-19 đến hiện tại, vắc-xin Comirnaty do Pfizer-BioNTech của Hoa Kỳ sản xuất là vắc-xin duy nhất có bằng chứng đủ mạnh về độ an toàn và để được phê duyệt và khuyến cáo sử dụng cho đối tượng trẻ vị thành niên (12 – 18 tuổi). Về mặt cơ chế, comirnaty chứa một phân tử RNA thông tin (mRNA) với các thông tin tổng hợp protein gai, là loại protein tự nhiên có trong vi rút SARS-CoV-2. Vắc xin có tác dụng bằng cách tạo cho cơ thể khả năng tự bảo vệ và chống lại vi rút SARS-CoV-2. 

Chuyển đổi từ đường tĩnh mạch sang đường uống trong sử dụng kháng sinh
Ngày đăng: 14/10/2021 17:22

Chuyển đổi từ đường tiêm sang đường uống là bước giảm nhẹ chế độ kháng sinh khi có liệu trình điều trị đạt hiệu quả. Bước chuyển này đã được nhiều nghiên cứu lâm sàng chứng minh mang lại lợi ích cho cả bệnh nhân và cơ sở chăm sóc y tế và là một trong những chiến lược tiếp cận quan trọng được chuyên trách bởi dược sĩ lâm sàng trong chương trình quản lý sử dụng kháng tại Việt Nam và trên thế giới hiện nay.  


Giảm đau sau mổ từ lý thuyết đến thực hành
Ngày đăng: 07/10/2021 10:51
   Giảm đau hậu phẫu là vấn đề quan trọng trong điều trị hồi sức, nhưng thường chưa được thực hiện hiệu quả trên thực hành lâm sàng. Các khuyến cáo hiện nay hướng về liệu pháp giảm đau đa mô thức, nhằm tăng hiệu quả cải thiện cơn đau cho bệnh nhân và giảm mức tiêu thụ thuốc giảm đau opioid trên thực hành. Trong liệu pháp này, giảm đau tự kiểm soát bằng đường tĩnh mạch (IV-PCA) vẫn được khuyến cáo ưu tiên, phối hợp cùng với các thuốc giảm đau nhẹ ngoại biên hoặc trung ương. Ngoài ra, tư vấn giáo dục bệnh nhân trước phẫu thuật về vấn đề đau hậu phẫu và việc sử dụng thuốc giảm đau cũng đóng vai trò quan trọng để giảm lo lắng và có hiệu quả điều trị tốt hơn. 

Sử dụng thuốc cho bệnh nhân COVID-19 điều trị ngoại trú
Ngày đăng: 31/08/2021 16:52
  Nhân viên y tế tại địa phương làm nhiệm vụ quản lý chăm sóc bệnh nhân F0 đang điều trị ngoại trú cần thực hiện điều soát thuốc, khai thác tiền sử dụng thuốc và tư vấn sử dụng các thuốc thuộc gói điều trị COVID-19 cho bệnh nhân một cách cụ thể để tránh các biến cố bất lợi do thuốc như phản ứng có hại, tương tác thuốc, sử dụng thuốc quá liều… nhất là trên những bệnh nhân là trẻ nhỏ, hoặc người có bệnh lý nền, đang sử dụng các thuốc điều trị khác hằng ngày,…

123
Bệnh viện trường Đại học Y dược Cần Thơ