Bệnh viện trường Đại học Y dược Cần Thơ
Bệnh viện trường Đại học Y dược Cần Thơ
Dị tật ống niệu rốn
Đăng vào lúc [2022-04-25 15:37:29] Lượt xem: 154 414 Share on Facebook
  Nang niệu rốn nhiễm trùng, một dị tật tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Nang niệu rốn là bệnh lý thường gặp có thể được phát hiện ở trẻ sơ sinh hoặc thậm chí ở người trưởng thành, nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời nang niệu rốn có thể tiến triển thành ung thư về sau. Qua bài viết này chúng tôi hy vọng có thể cung cấp một số thông tin cơ bản về căn bệnh này.

Dị tật ống niệu rốn và cụ thể nang niệu rốn là bệnh gì là câu hỏi thắc mắc của nhiều người.

Nang niệu rốn nhiễm trùng, một dị tật tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Nang niệu rốn là bệnh lý thường gặp có thể được phát hiện ở trẻ sơ sinh hoặc thậm chí ở người trưởng thành, nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời nang niệu rốn có thể tiến triển thành ung thư về sau. Qua bài viết này chúng tôi hy vọng có thể cung cấp một số thông tin cơ bản về căn bệnh này.

1. Định nghĩa

Ống niệu rốn bắt nguồn từ xoang niệu dục, hình thành trong thời kỳ bào thai nối từ rốn đến bàng quang. Thông thường ống này sẽ thoái triển trước sinh. Tuy nhiên có một số trường hợp sau khi sinh, ống này không thoái triển mà hình thành nên các bất thường ống niệu rốn.

Nang niệu rốn là tình trạng ống niệu rốn không thoái triển mà tồn tại và giãn to phần ống niệu rốn nằm giữa bàng quang và rốn, hình thành nang niệu rốn. Nang niệu rốn tuy xuất hiện từ khi sinh ra, nhưng đa phần bệnh lý nang niệu rốn thường được phát hiện ở tuổi trưởng thành. Bệnh nhân có thể chung sống hòa bình với nang niệu rốn cả đời mà không nhận ra nó. Biến chứng của nang niệu rốn bao gồm như nang niệu rốn nhiễm trùng do nang tồn tại lâu dài gây nhiễm trùng lan rộng dọc đường giữa quanh vùng bụng dưới, nhiễm trùng tiểu khung, rỉ nước tiểu ở rốn, nhiễm trùng rốn và có thể ung thư hóa.

2.  Phân loại hình thái lâm sàng

Ống niệu rốn có thể tồn tại một phần hay hoàn toàn tạo nên những dạng dị tật bẩm sinh của ống niệu rốn: xoang ống niệu rốn, nang ống niệu rốn, tồn tại ống niệu-rốn và túi thừa ống niệu rốn. Trong đó dạng xoang ống niệu rốn và nang ống niệu rốn là phổ biến nhất (43-45% và 29-43%), tồn tại ống niệu rốn và túi thừa ống niệu rốn ít hơn (10 – 15% và 4 – 6%).

3.  Nguyên nhân

Trong ba tháng đầu của thai kỳ, ống niệu rốn là một kênh giữa bàng quang và dây rốn của thai nhi cho phép nước tiểu thoát ra khỏi bào thai. Đến tam cá nguyệt thứ ba, ống niệu rốn đóng lại và trở thành dây chằng rốn giữa. Nếu cấu trúc này vẫn mở, có thể tạo ra tồn tại ống niệu rốn.

Các bất thường về ống niệu rốn là không phổ biến và thường được phát hiện tình cờ trong quá trình chẩn đoán hình ảnh và khám nghiệm tử thi. Chúng có khả năng được tìm thấy ở nam giới cao gấp đôi so với phụ nữ. Nguyên nhân chính xác của những bất thường về ống niệu rốn hiện nay vẫn chưa được biết.

4. Triệu chứng

  Có nang niệu rốn không có nghĩa là bệnh nhân sẽ có các triệu chứng. Nang có thể không có bất kỳ một biểu hiện cơ năng nào rõ ràng.

 Khám bằng cách sờ nắn bụng thường có thể sờ được một u dạng nang, thể chất mềm, căng, nằm ở ngay bên dưới rốn, nang hoặc áp xe nang niệu  rốn thường chỉ gây ra các triệu chứng nếu chúng bị nhiễm trùng. Các triệu chứng của nang niệu – rốn bị nhiễm trùng bao gồm:

     -    Đau bụng

     -     Sốt

     -     Các khối ở bụng

     -     Đau hoặc rát khi đi tiểu

     -     Nhiễm trùng đường tiết niệu thường xuyên

     -     Có máu trong nước tiểu

5.   Chẩn đoán

Sự hiện diện của nang niệu rốn được xác nhận thông qua các kỹ thuật hình ảnh như siêu âm, chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp cắt lớp vi tính (CTscan). Phương tiện này cho phép các bác sĩ xác định xem có nang hay không và có vấn đề với nang đó hay không.

Siêu âm bụng: có thể thấy cấu trúc ống vùng hạ vị, thông thương rốn với bàng quang; nang giữa rốn và bàng quang; túi thừa ở mặt đáy bàng quang.

Chụp cắt lớp vi tính thấy hình ảnh nang niệu rốn.

6.  Điều trị

Nếu nang niệu rốn không gây ra các triệu chứng, thì không phải thực hiện bất kỳ hành động cụ thể nào. Việc điều trị sẽ chỉ khẩn cấp nếu nang bị nhiễm trùng. Trong trường hợp này, thuốc kháng sinh là bắt buộc. Staphylococcus aureus được xác định là vi sinh vật phổ biến nhất. Nang niệu rốn bị nhiễm trùng cần phải được phẫu thuật loại bỏ. Cắt bỏ nang ngăn ngừa nhiễm trùng trong tương lai và giảm nguy cơ ung thư ống niệu rốn. Nếu không được phát hiện, nang bị nhiễm trùng có thể thủng vào bàng quang hoặc khoang phúc mạc. Điều này có thể gây ra viêm phúc mạc và hình thành một lỗ rò ruột. Điều trị bao gồm dẫn lưu nang bị nhiễm trùng, tiếp theo là cắt bỏ hoàn toàn các cấu trúc còn sót lại của nang niệu rốn.

Báo cáo một trường hợp lâm sàng

Vừa qua Trung tâm Tiết niệu và HIFU Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ vừa tiếp nhận một bệnh nhân nam L.H.K, 30 tuổi, ngụ tại Hậu Giang vào viện vì một khối sưng đau quanh rốn, mật độ chắc, khối phồng ngày càng tăng, gây khó chịu nhiều nên bệnh nhân nhập viện, sau khi nhâp viện bệnh nhân được chẩn đoán Dị tật ống niệu rốn – Nang niệu rốn nhiễm trùng. Bệnh nhân được phẫu thuật với ekip phẫu thuật gồm BS. CKII Nguyễn Trung Hiếu, BS NT Phạm Hữu Tân. Sau phẫu thuật bệnh nhân tiếp tục được cho kháng sinh, giảm đau. Sau 3 ngày vết mổ khô lành tốt, không còn rỉ dịch, da quanh vết mổ không sưng, không nóng đỏ, bệnh nhân không sốt, ăn uống được nên đã được cho xuất viện.

Hình 1. Chụp cắt lớp vi tính với hình ảnh có bóng khí và phù nề mô mềm quanh rốn theo dõi nang niệu rốn.

Hình 2. Chúng tôi bóc tách tìm ống niệu rốn thấy một xoang mủ thông với ống niệu rốn. Chúng tôi tiến hành lấy mô mủ làm xét nghiệm nuôi cáy vi khuẩn. Dẫn lưu nang bị nhiễm trùng, tiếp theo là cắt bỏ hoàn toàn các cấu trúc còn sót lại của nang niệu rốn.

Hình 3. Hậu phẩu ngày 2 với  vết mổ khô lành tốt, không còn rỉ dịch, da quanh vết mổ không sưng, không nóng đỏ.

    7. Kết luận

Để phát hiện sớm bệnh nang niệu rốn nhằm hạn chế các nguy cơ viêm nhiễm và ung thư hóa, bệnh nhân có các dấu hiệu bất thường ở vùng rốn và dưới rốn, đặc biệt là trẻ em, cần được phát hiện, thăm khám và thực hiện các cận lâm sàng như siêu âm, chụp cắt lớp vi tính thích hợp để chẩn đoán chính xác mới điều trị có kết quả tốt, không để lại di chứng và nguy cơ ung thư hóa.

BS CKII. NGUYỄN TRUNG HIẾU

 Chia sẻ bài viết lên Facebook Share on Facebook
Tin tức liên quan:
Bệnh viện trường Đại học Y dược Cần Thơ